Quan Điểm Về Nấu Ăn / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Vinaconex.edu.vn

Quan Điểm Về Mối Quan Hệ Mẹ Chồng Nàng Dâu Và Mẹ Đẻ Con Gái

1. Sự khác biệt qua lời nói dành cho con gái

Khi bạn còn độc thân, ắt hẳn dù mẹ có nuông chiều, thương yêu đến mấy cũng không khỏi những lần rầy la, giáo dục của mẹ. Tuy nhiên, chẳng mẹ nào mà nỡ trách mắng, la rầy con mình thái quá cả. Có chăng đó là những bài học kinh nghiệm để con mình làm hành trang vững bước trên đường đời. Vì vậy, cho dù có bị mẹ mắng, con gái cũng sẽ chẳng thấy ấm ức lâu, thậm chí lúc nhỏ sau mỗi lần dạy dỗ, con gái còn được mẹ yêu quý ôm vào lòng dỗ dành. Lớn lên rồi, đặc biệt là lúc đã thành gia lập thất, thật sự muốn được nghe một lời rầy la của mẹ cũng hiếm khi có cơ hội.

2. Phong cách nấu ăn

Chẳng riêng gì mẹ chồng với mẹ đẻ, mà mỗi người đều có một phong cách nấu ăn và gu ẩm thực riêng. Việc làm hài lòng mọi người vốn dĩ là điều không thể. Tuy nhiên khi ở nhà với mẹ, dù bạn vụng về, bất cẩn vẫn có mẹ hỗ trợ, giúp đỡ. Lắm cô con gái quá được nuông chiều nên thậm chí nấu những món đơn giản cũng không biết, bởi ở nhà đã có mẹ lo lắng tất cả rồi còn đâu.

3. Chăm sóc con cái

Cùng là phụ nữ, ai cũng đã từng làm mẹ, vì vậy với con dâu mà nói ít nhiều có sự đồng cảm. Nhất là trong giai đoạn con dâu “vượt cạn”, cả mẹ chồng và mẹ đẻ đều thật sự sốt sắng đón chào thành viên mới chào đời. Một người con gái có thể nhận được sự quan tâm chăm sóc đến từ cả mẹ đẻ lẫn mẹ chồng thì thật là có phước.

4. Mục đích của sự quan tâm chăm sóc

Yêu thương chăm sóc con cái là bản năng của mọi người mẹ, vì vậy bạn đón nhận tình thương yêu vô điều kiện của mẹ mình là điều đương nhiên và không cần biết lý do vì sao ngườ ấy lại yêu thương mình nhiều đến như vậy. Vậy đặt trường hợp người yêu thương bạn không phải là người cùng máu mủ huyết thống với bạn, bạn có hỏi lý do tại sao?

Cuối cùng dù quan niệm về mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu và mẹ đẻ con gái có nhiều khác nhau, dù cách đối xử, tình cảm, lời nói,.. dành cho con là thật hay có mục đích, phận làm con làm dâu đều cần hiếu kính và chăm sóc gia đình, hoàn thành thiên chức của người phụ nữ là giữ lửa cho gia đình được hạnh phúc.

Tổng Quan Về Dinh Dưỡng Trong Ăn Chay

(Ăn chay đủ chất) – Có những người từ bỏ thịt, cá và các thực phẩm từ động vật để tiến tới ăn chay một cách dễ dàng. Song lại có những người như Chap ăn chay một cách từ từ, dần dần, nghĩa là mỗi ngày bỏ một chút một cho tới khi ngừng ăn thịt hoàn toàn. Tùy vào điều kiện từng người mà mỗi người chọn cho mình một chế độ ăn chay hợp lí.

Tuy nhiên, dù là ăn chay theo cách nào thì bạn cũng nên trang bị những kiến thức cần thiết về các chất dinh dưỡng trong các thực phẩm chay để tự tin hơn khi lựa chọn thực phẩm phù hợp cho mình.

Người ăn chay dễ dàng đáp ứng lượng protein cần thiết qua việc ăn một khẩu phần thức ăn đa dạng, miễn là chúng đáp ứng đủ lượng calo để duy trì trọng lượng của chúng ta. Các bạn cũng không cần thiết phải lên kế hoạch cho việc kết hợp các loại thức ăn. Một hỗn hợp protein trong ngày sẽ cung cấp đủ các amino axit cần thiết cho cơ thể chúng ta.

Chúng ta có thể có đủ protein cho cơ thể từ các nguồn như các loại đậu, đậu phụ, đậu xanh, đậu Hà Lan, các loại hạt, ngũ cốc, … Nhiều loại thực phẩm phổ biến như bánh mì làm từ lúa mì nguyên hạt, rau xanh, khoai tây, ngô cũng nhanh chóng bổ sung lượng protein cần thiết cho cơ thể.

Đậu khô, đậu phụ, rau cải bó xôi, củ cải, khoai tây, hạt điều, trái cây khô và các loại thực phẩm tăng cường sắt (như ngũ cốc, bột yến mạch và các loại thịt chay) là những nguồn cung cấp sắt dồi dào. Để tăng lượng sắt hấp thụ trong một bữa ăn, nên ăn các thức ăn chứa vitamin như các loại trái cây hay nước ép cam, quýt, khoai tây và súp lơ. Chúng ta cũng có thể sử dụng đồ bếp bằng sắt cũng bổ sung lượng sắt.

Nguồn bổ sung canxi dồi dào bao gồm súp lơ, rau cải, cải xoăn, mù tạc, đậu phụ chế biến với canxi, sữa đậu nành tăng cường và nước cam ép tăng cường.

Người lớn thường bổ sung lượng B12 rất thấp nhưng đây là một chất dinh dưỡng cần thiết nên người ăn chay cần phải có hiểu biết về nó. Thực phẩm tăng cường, chẳng hạn như một số loại ngũ cốc, men dinh dưỡng, sữa đậu nành hoặc “thịt” chay là những nguồn thực phẩm chay cung cấp B12 dồi dào. Nếu không quá nghiêm ngặt, các bạn cũng có thể bổ sung B12 từ trứng và sữa động vật.

Theo Viện Dinh dưỡng và Chế độ ăn Hoa Kỳ, chế độ ăn chay có thể cung cấp tất cả nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ em. Các chế độ ăn cho trẻ cần chứa đủ lượng calo và những nguồn dinh dưỡng chủ yếu, đáng tin cậy như sắt, vitamin D, B12 và kẽm để hỗ trợ cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ.

Như vậy, các loại rau củ quả, ngũ cốc trong thực vật đều có thể đảm bảo các chất dinh dưỡng cần thiết cho người ăn chay. Việc ăn chay thực chất không hề thiếu chất dinh dưỡng như mọi người vẫn nghĩ và ta phải biết sử dụng cũng như kết hợp đúng các loại thực phẩm từ thực vật để có chế độ ăn uống khoa học.

Một Số Khái Niệm Cơ Bản Liên Quan Về Giới

(Trích từ tài liệu về phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu)

Giới và giới tính

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.

Những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ là không thể thay đổi được. Những đặc điểm có thể hoán đổi cho nhau giữa nam và nữ được coi là thuộc về khía cạnh Giới. Ví dụ: Phụ nữ cũng có thể mạnh mẽ và quyết đoán. Phụ nữ có thể trở thành lãnh đạo, phi công, thợ máy/kỹ sư… Ngược lại nam giới có thể dịu dàng và kiên nhẫn, có thể làm đầu bếp, nhân viên đánh máy, thư ký… Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là những khái niệm, nếp nghĩ và tiêu chuẩn mang tính chất xã hội. Đó là sự khác biệt về Giới và nó thay đổi theo thời gian, không gian…

Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất (nam và nữ khắp nơi trên thế giới đều có chức năng/cơ quan sinh sản giống nhau), không thể thay đổi được (giữa nam và nữ), do các yếu tố sinh học quyết định. Chúng ta sinh ra là đàn ông hay đàn bà: chúng ta không thể lựa chọn và không thể thay đổi được điều đó.

Giới phản ảnh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội. Những sự khác biệt này là do quá trình học[1] mà thành, đa dạng, và có thể thay đổi. Chúng thay đổi theo thời gian, từ nước này sang nước khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định. (Địa vị của người phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam khác với địa vị xã hội của phụ nữ Hồi giáo, địa vị của phụ nữ nông thôn khác với địa vị của phụ nữ vùng thành thị).

Quá trình thay đổi các đặc điểm Giới thường cần nhiều thời gian bởi vì nó đòi hỏi một sự thay đổi trong tư tưởng, định kiến, nhận thức, thói quen và cách cư xử vốn được coi là mẫu mực của cả xã hội. Sự thay đổi về mặt xã hội này thường diễn ra chậm và phụ thuộc vào mong muốn và quyết tâm thay đổi của con người.

Các Vai trò giới

Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định. Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới.

Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội.

Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau:

– Vai trò sản xuất

– Vai trò tái sản xuất

– Vai trò cộng đồng

·Vai trò sản xuất là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ để tiêu dùng và trao đổi thương mại. Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công. Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau. Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này.

·Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ…giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc chăm sóc gia đình,nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khoẻ gia đình… Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc sống con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động; tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo ra thu nhập, vì vậy mà ít khi được coi là “công việc thực sự”, được làm miễn phí, không được các nhà kinh tế đưa vào các con tính. Xã hội không coi trọng và đánh giá cao vai trò này. Hầu hết phụ nữ và trẻ gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất.

·Vai trò cộng đồng: bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch vụ: ví dụ như thăm hỏi động viên gia đình bị nạn trong thảm họa, thiên tai; nấu cơm hoặc bố trí nhà tạm trú cho những gia đình bị mất nhà ở; huy động cộng đồng đòng góp lương thực, thực phẩm cứu trợ người bị nạn… Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng. Có lúc nó đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay được. Có lúc nó lại được trả công và có thể nhìn thấy được (ví dụ: là thành viên phân phối hàng cứu trợ sau bão).

Cả nam và nữ đều có khả năng tham gia vào cả ba loại vai trò trên. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, phụ nữ hầu như đều phải đảm nhiệm vai trò tái sản xuất đồng thời cũng phải tham gia tương đối nhiều vào các hoạt động sản xuất. Gánh nặng công việc gia đình của phụ nữ cản trở họ tham gia một cách tích cực và thường xuyên vào các hoạt động cộng đồng. Kết quả là, đàn ông có nhiều thời gian và cơ hội hơn để đảm nhận vai trò cộng đồng và rất ít khi tham gia vào các hoạt động tái sản xuất.

Sự hiểu biết sâu sắc về vai trò giới giúp chúng ta thiết kế các hoạt động phù hợp cho cả nam và nữ, từ đó thu hút được sự tham gia một cách hiệu quả của họ và đồng thời góp phần làm giảm sự bất bình đẳng trên cơ sở giới trong việc phân chia lao động xã hội

Thực tế cho thấy sự phân công lao động trong một xã hội nhất định thường có xu hướng dựa vào đặc điểm giới tính. Theo đó, công việc đảm nhiệm có tác động tới vị thế của mỗi người, cơ hội và chất lượng sống của họ. Khi xem xét vai trò giới chính là xem xét phụ nữ và nam giới trong 3 vai trò: vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng.

Định kiến giới

Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

Định kiến giới là suy nghĩ của mọi người về những gì mà phụ nữ và nam giới có khả năng làm và loại công việc mà họ có thể làm và nên làm; là tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộc tính của nam giới hay nữ giới.

Các định kiến giới thường theo xu hướng nhìn nhận ít tích cực, không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng cá nhân dẫn đến việclàm sai lệch và hạn chế những điều mà một cá nhân nam, nữ có thể làm, cần làm hoặc nên làm. Ví dụ: Quan niệm cho rằng người phụ nữ không thể tham gia vào các hoạt động quản lý giảm nhẹ thiên tai, chỉ nên coi họ là một trong những đối tượng cần quan tâm đặc biệt trong thiên tai.

Nhạy cảm giới

Nhạy cảm giới là nhận thức được các nhu cầu, vai trò, trách nhiệm mang tính xã hội của phụ nữ và nam giới nảy sinh từ những đặc điểm sinh học vốn có của họ. Đồng thời hiểu được điều này dẫn đến khác biệt giới về khả năng tiếp cận, kiểm soát nguồn lực và mức độ tham gia, hưởng lợi trong quá trình phát triển của nam và nữ.

Để giúp làm rõ Nhạy cảm giới trong quản lý giảm nhẹ rủi ro thiên tai, có thể lấy ví dụ: Khi một người làm công tác thông tin truyền thông hiểu được rằng: Phụ nữ ít có cơ hội thu nhận thông tin nói chung và thông tin dự báo thời tiết, cách phòng tránh thảm họa nói riêng do các bản tin này thường được phát vào thời gian nấu ăn khi phụ nữ đang ở trong bếp.

Trách nhiệm giới

Trách nhiệm giới là có nhạy cảm giới và có những biện pháp hoặc hành động thường xuyên, tích cực và nhất quán trong công việc để loại trừ nguyên nhân bất bình đẳng giới nhằm đạt được bình đẳng giới.

Ví dụ: Khi người cán bộ làm công tác truyền thông có được nhạy cảm giới, họ đã điều chỉnh bằng cách phát lại thông tin dự báo thời tiết nhiều lần trong ngày thay vì chỉ phát một lần vào đúng giờ nấu cơm. Như vậy, có thể cho rằng họ đã có trách nhiệm giới trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện công tác thông tin truyền thông.

Số liệu có tách biệt giới

Số liệu giới là số liệu tách biệt nam, nữ trong các chỉ tiêu, các lĩnh vực cụ thể. Các số liệu này cho thấy mức độ của các khoảng cách giới và được thể hiện dưới nhiều dạng bảng biểu khác nhau. Số liệu giới chỉ cho thấy sự khác biệt giữa nam và nữ mang tính định lượng bằng con số hoặc tỷ lệ cụ thể mà không cho biết tại sao lại tồn tại những khác biệt đó.

Bình đẳng giới

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Các yếu tố cấu thành bình đẳng giới:

-Quan tâm đến sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ cũng như những bất hợp lý về giới có thể tồn tại trên thực tế.

-Chú trọng đến tác động của phong tục, tập quán như là những nguyên nhân sâu xa và cơ bản của tình trạng phân biệt đối xử.

-Các chính sách, pháp luật không chỉ quan tâm đến những quy định chung mà còn quan tâm đặc biệt đến các quy định thể hiện được hai khía cạnh: phân biệt hợp lý yếu tố ưu tiên, bình đẳng hoặc vừa ưu tiên, vừa bình đẳng cho một nhóm cụ thể hoặc là nam hoặc là nữ để đạt được bình đẳng giới trên thực tế.

Bất bình đẳng giới

·Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước.

Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Các dạng tồn tại bất bình đẳng giới: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến dập khuôn và bạo lực trên cơ sở giới tính.

Thanh Hương (theo HLHPN)

Những Kiến Thức Quan Trọng Về Thịt Bò Dành Cho Đầu Bếp ?

Beefsteak (bít tết) có lẽ là món ăn từ thịt bò nổi tiếng nhất thế giới

Chất dinh dưỡng có trong thịt bò

Trong thịt bò có chứa rất nhiều vitamin và các khoáng chất, trong đó đáng kể nhất phải nhắc đến protein và sắt.

Protein có cả trong các loại thức ăn có nguồn gốc từ thực vật (đặc biệt là các loại đậu) và động vật. Tuy nhiên so với các thức ăn khác, thịt bò được chứng minh là có nhiều protein hơn cả, đến 30% hàm lượng protein trong tất cả các loại thịt. Với hàm lượng giàu có như thế, dễ hiểu vì sao trong chế độ ăn uống của người cần phục hồi sức khỏe hay vận động viên luôn ưu tiên cho thịt bò.

Sắt trong thịt bò là ở dạng Heme-Iron. Ngoài việc bổ sung khoáng chất sắt cho cơ thể thì loại chất này còn giúp cho chúng ta hấp thu sắt ở những thức ăn khác tốt hơn. Thậm chí, việc ăn thịt bò còn giúp trau dồi lượng sắt tốt hơn là uống thuốc bổ. Với tình trạng thiếu máu của rất nhiều người hiện nay thì bổ sung các món ăn có thịt bò chính là một biện pháp hiệu quả và an toàn.

Có rất nhiều dinh dưỡng trong thực phẩm này

Nên ăn bao nhiêu thịt bò mỗi ngày?

Ai cũng biết, thịt bò là nguồn thực phẩm tốt. Nó có tác dụng hỗ trợ cải thiện thiếu máu, tăng cơ bắp rất hiệu quả. Song, bạn đã từng nghe đến những căn bệnh như Alzheimer (mất trí nhớ), sán giải bò, sán lá gan hay thậm chí là nguy cơ cao mắc căn bệnh ung thư đại tràng? Khoa học đã chứng minh, ai cũng có khả năng mắc những căn bệnh này nếu tiêu thụ quá nhiều thịt bò.

Vậy, dùng thịt bò bao nhiêu mỗi ngày là đủ?

Câu trả lời chính là chúng ta chỉ nên tiêu thụ không quá 200gram thịt/ngày và tốt nhất là dưới 150gram/ngày, dù đó là bất cứ loại thịt nào. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chỉ nên ăn thịt đỏ (thịt gia súc) tối đa 3 ngày/tuần, còn lại là sử dụng thịt trắng (gia cầm hoặc cá, hải sản).

→ Cách Ướp Gia Vị Trong Món Ăn

→ Tìm Hiểu Cua Hoàng Đế Là Gì? Cách Làm Cua Hoàng Đế

7 cấp độ chín khi chế biến thịt bò và thời gian chế biến

Không chỉ riêng gì beefsteak, thịt bò trong nhiều món ăn khác nhau cũng có các cấp độ chín khác nhau. Bạn đã từng nghe qua món ăn nào chỉ làm chín thịt bằng chanh hay thậm chí chỉ ướp muối và trộn với trứng gà chưa? Đó chính là cấp độ chín thấp nhất của thịt bò bò – chế biến không qua gia nhiệt.

Cấp 1 – Raw: sống hoàn toàn

Cấp 2 – Blue rare: chín 10%, thời gian áp chảo cho mỗi mặt thịt bò là 30s

Cấp 3 – Rare: chín 25%, thời gian áp chảo mỗi mặt là 60s

Cấp 4 – Medium rare: chín 50%, thời gian áp chảo mỗi mặt là 2 phút

Cấp 5 – Medium: chín 70%, thời gian áp chảo mỗi mặt là 3 phút

Cấp 6 – Medium well: chín 90%, thời gian áp chảo mỗi mặt là 4 phút

Cấp 7 – Well done: chín 100%, thời gian áp chảo mỗi mặt là 5 phút.

Các mức độ chín của thịt bò

Những thực phẩm không nấu cùng với thịt bò

Và đây chính là điều mà bạn nên khắc cốt ghi tâm để có một bữa ăn an toàn.

Nguyên tắc khi kết hợp các thực phẩm trong một món ăn hoặc giữa các món trong một bữa ăn là gì? Đó là không nấu chung những thực phẩm có cùng hàm lượng dinh dưỡng quá nhiều (dễ dẫn đến dư thừa), không nấu chung những thực phẩm có chứa các chất dễ phản ứng với nhau tạo thành các chất gây khó tiêu. Đối với thịt bò, bạn không nên ăn cùng với các thực phẩm như sau:

Lươn: gây khó tiêu

Hải sản: các chất phản ứng với nhau tạo kết tủa, cản trở sự hấp thu và tiêu hóa của cơ thể

Đậu nành: tăng nguy cơ gây ra bệnh gút

Hạt dẻ: làm cho thịt bò mất đi chất dinh dưỡng vốn có

Nước chè: dễ dẫn đến triệu chứng táo bón

Đậu đen: trong đậu đen cũng rất giàu sắt và bạn không nên kết hợp cả 2 thực phẩm cùng giàu sắt với nhau, sẽ gây ra phản ứng không tốt hoặc dẫn đến thừa chất trong cơ thể

Thịt heo: thịt bò có tính ôn, thịt heo có tính hàn. Sự kết hợp của 2 thực phẩm này làm cho các chất dinh dưỡng trong món ăn không còn hiệu quả cao nữa.

Các bộ phận của bò có thể nấu món gì ngon?

Đây cũng là phần quan trọng nên tìm hiểu. Bởi với mỗi món ăn, chúng ta nên chọn những bộ phận phù hợp để có được những món ăn ngon.

Các bộ phận ăn được lấy từ bò

Thịt cổ bò: ít mỡ, nhiều thớ, khá cứng và dai, thích hợp để nấu súp hoặc hầm thịt.

Thịt vai: mỡ vừa phải, nhiều thịt, thích hợp để làm món quay nướng hoặc beefsteak, nhúng lẩu cũng khá lý tưởng.

Thịt sườn: có nhiều vân mỡ nên dùng làm món nướng là lý tưởng, ngoài ra còn thái mỏng dùng để nhúng lẩu.

Thăn ngoại: nhiều mỡ, mềm, được xem là thịt ngon nhất của con bò và lý tưởng nhất chính là làm beefsteak.

Thăn nội: mỡ khá ít, mềm thịt, cũng phù hợp làm beefsteak.

Nạm: thịt nạm khá cứng, chủ yếu dùng để nướng hoặc xào, ở Việt Nam có món phở nạm cũng rất ngon.

Diềm thăn: khá nhiều mỡ nhưng lại khá cứng, phù hợp để nấu các món hầm.

Bắp bò: phần này thịt cứng, nhiều gân, hay được dùng để hầm cho nước dùng ngọt tự nhiên.

Thịt mông: Phần thịt mongo chủ yếu để nấu súp và hầm. Ở một số nước phương Tây, người ta thường thái mỏng phần thịt này để ăn tái hoặc ăn sống.

Thịt bò là một nguyên liệu khá đắt, giàu dinh dưỡng và nấu được nhiều món ngon. Hiểu về thịt bò không chỉ là biết các công thức nấu sao cho hấp dẫn mà còn là hiểu nguyên liệu đó tốt ra sao, nên chế biến như thế nào là tốt để đạt được hiệu quả sử dụng cao nhất. Với một vài thông tin trên, hy vọng bạn đã có thêm một số kiến thức nấu ăn về loại thực phẩm ngon và bổ này!