Phương Pháp Nấu Xôi Đậu Xanh Ngon Đúng Điệu Trong 1 Nốt Nhạc

Cách nấu xôi đậu xanh ngon đúng điệu mới nghe thôi cũng khiến rộng rãi chị em nội trợ tò mò không biết thực hiện làm sao. Bạn hãy yên tâm chỉ có 30 phút đã chế biến ra món xôi đậu xanh thơm ngon, hấp dẫn rồi

Nguyên liệu để nấu xôi đậu xanh.

Trước khi bắt tay vào nấu xôi đậu xanh việc đầu tiên người mua cần làm cho là chuẩn bị cho mình một số nguyên liệu cần phải có. Điều này sẽ giúp cho giai đoạn nấu được diễn ra thuận tiện hơn mà ko sợ thiếu nguyên liệu, gia vị lúc nấu.

Gạo nếp: 500g

Đậu xanh cà vỏ: 300g

Nuớc cốt dừa: 150g

Dừa nạo sợi: 100g

Lá dứa: một bó

Gia vị: Muối, đường…

Cách nấu xôi đậu xanh đơn thuần

Trường hợp như bạn chỉ phải kiếm trên google cụm từ khóa “cách nấu xôi đậu xanh” đảm bảo sẽ xuất hiện số đông phương pháp nấu khác nhau. Tuy nhiên, không phải bí quyết nấu nào cũng đảm bảo đơn giản, tiết kiệm thời gian mà hương vị món ăn mang đến cũng cao hết. vì vậy, hãy áp dụng theo hướng dẫn sau đây.

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

Gạo nếp sau khi chọn về khách hàng sẽ đem rửa qua để dòng bỏ hết bụi bẩn. Đem ngâm gạo trong nước từ 6 đến 8 tiếng hoặc ngâm qua đêm nếu bạn mang thời gian. Sau đấy vớt ra, vo nhẹ rồi xả lại cùng với nước, để ráo. Việc ngâm qua có nước sẽ giúp cho gạo được nở mềm, nhanh chín hơn lúc nấu.

Đậu xanh bạn cũng đem rửa sạch ngâm cộng sở hữu nước trong khoảng 4 tiếng để đậu được nở đều, lúc nấu không bị sượng. Trong nếu bạn không với đa dạng thời gian để chuẩn bị thì hãy đem ngâm đậu cùng với nước ấm trong vòng 2 tiếng rồi đãi sạch để cho ráo nước là được.

Lá dứa bạn phải tậu những loại lá to, đem rửa sạch sau đấy buộc chúng thành một cụm sao cho gọn gàng là được.

Bước 2: Thêm các gia vị vào trong hỗn hợp gạo và đậu

Tiến hành xóc đều tay lên để ngấm đều các cái gia vị vào trong gạo nếp, đậu xanh. Lúc nấu vững chắc món xôi của bạn sẽ với được hương vị thơm ngon và đậm đà hơn phổ biến.

Bước 3: Hấp xôi đậu xanh

Bạn chuẩn bị một loại nồi hấp xôi bằng điện sau đấy cho bó lá dứa vào trong nồi, đổ nước để hấp xôi bằng khoảng 1/3 nồi. Dàn đều phần đậu xanh và nếp lên trên bề mặt xửng hấp rồi mới xếp xửng vào bên trong nồi.

Nhớ tạo ra 1 lỗ tròn nằm ở giữa để cho hơi nước dễ bốc lên trên điều này sẽ giúp cho xôi đậu xanh được nhanh chín, nở đều và ko bị nhão ra. Hấp xôi với lửa trong khoảng 30 tới 40 phút là xôi đã chín mềm, nở đều hạt nào ra hạt ấy rồi.

Lúc xôi đậu xanh đã chín rồi bạn sẽ dùng đến một chiếc muôi gỗ xới xôi đến lên, cho chút nước dừa vào. Nhớ xới nhẹ tay để xôi ngấm đều mang nước dừa, hấp thêm 3 phút nữa thì tắt bếp được rồi. Bạn chú ý chỉ cho vào nồi xôi 1 lượng nước dừa vừa đủ để cho xôi của bạn không bị nhão.

Bước 4: Thưởng thức

Bạn sẽ xới xôi đậu xanh đã chín ra bên không tính đĩa thêm vào đó chút đường.

Bạn cũng sở hữu thể ăn kèm cùng có hành phi, ruốc, muối vừng, chà bông, giò lụa đảm bảo sẽ ngon bá cháy luôn cho mà xem.

Lưu ý lúc nấu xôi đậu xanh

Trong công đoạn thực hiện nấu xôi đậu xanh người dùng nên phải để ý đến 1 số vấn đề quan trọng như sau đây:

Ví như dùng chiếc nước cốt dừa đậm đặc thì hãy trộn chung gạo nếp rồi mới đem đi hấp xôi.

Muốn với món xôi đậu xanh thơm ngon hãy chọn các hạt gạo nếp ngon, hạt mẩy, bóng, ko bị gãy.

Đậu xanh nên tìm cái loại sở hữu lòng màu xanh. Không phải sử dụng những loại đậu mang lòng màu trắng vì như thế lúc nấu dễ bị sượng, khiến cho hỏng món xôi.

Các Phương Pháp Nấu Chảy Kim Loại (Phần 2)

NẤU CHẢY VỚI LÒ ĐỐT BẰNG KHÍ Lò đốt bằng khí gồm buồng lò có dạng hình trụ, đường kính khoảng 300 mm, bên trong được cấu tạo bằng vật liệu chịu lửa, còn bên ngoài được bảo vệ bằng lớp vỏ thép, có một đầu đốt để đốt hổn hợp khí và gió trộn lẫn vào nhau theo tỷ lệ (20% khí – 80% gió), được cung cấp thông qua một cái van điều chỉnh được lưu lượng hổn hợp khí, để canh chỉnh ngọn lửa sao cho tiếp xúc với buồng lò theo phương tiếp tuyến. Do đó, ngọn lửa sẽ tạo thành hình xoắn ốc bao quanh cốc nấu khi đặt vào đáy lò hình trụ, như thế việc nấu chảy đồng đều hơn. Một quạt gió có chức năng hút gió từ môi trường và thổi nó vào lò. Phía trên buồng lò hình trụ, ngay chính giữa có một lổ thông, mục đích cho không khí nóng trong lò thoát ra ngoài và là nơi dùng để quan sát quá trình nấu chảy trong lò. Dung tích nấu chảy của lò loại này có thể đạt 50 – 80 kg. Khi hợp kim được nấu chảy bằng sự nung nóng cốc nấu than chì qua ngọn lửa, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ ngọn lửa, gọi là quá trình nấu chảy gián tiếp.

ƯU ĐIỂM So với các phương pháp nấu chảy mô tả trước đây, phương pháp nấu chảy với lò đốt bằng khí có ưu điểm là: Bản thân của quá trình đốt cháy cốc nấu diễn tiến từ từ do buồng lò cấu tạo kín nên hạn chế tiếp xúc với oxy trong không khí, các hợp kim luôn luôn được đặt trong môi trường không có không khí, do đó làm giảm nguy cơ của quá trình oxy hóa. NẤU CHẢY BẰNG ĐIỆN TRỞ 1. ĐỊNH NGHĨA: Nấu chảy bằng điện trở là dùng lò được đốt nóng bằng điện thay vì dùng ngọn lửa để đốt nóng theo đúng nghĩa. Do là điện trở nên khi có dòng điện chạy qua sẽ bị cản trở, tạo ra nhiệt cần thiết làm nấu chảy các hợp kim. Trong vật lý, hiện tượng này gọi là hiệu ứng Jun (Joule). 2. HIỆU ỨNG JOULE: Nhiệt lượng (Q) sinh ra do điện trở (R) trong thời gian (t) luôn luôn tỷ lệ thuận với điện thế (V) ở hai đầu dây điện trở. Thời gian (t) và điện thế (V) tương quan theo tỷ lệ: Q = k V I t (Trong đó, k là hệ số tỷ lệ) Chưa hết, Theo định luật Ôm (Ohm) I = V / R Thay I = V / R vào công thức Q , ta sẽ có: Q = k V2 t / R ( Trong đó, R là điện trở của vật liệu khi có dòng điện chảy qua nó)

3. GIỚI HẠN: Điện trở thường được làm bằng dây crom – niken (Cr – Ni) hay tốt hơn là dây bạch kim (Pt), bởi vì chúng có thể đạt được nhiệt độ khoảng 1.400 độ C. Rõ ràng, phương pháp nấu chảy này chỉ áp dụng được với các hợp kim có nhiệt độ nóng chảy dưới nhiệt độ này.

4. ƯU ĐIỂM: Lò nấu bằng điện có một vài ưu điểm sau: – Đốt nóng đồng nhất – Kiểm soát không cho nhiệt độ thay đổi – Ít tạp chất hơn trong khi nấu chảy – Thời gian nấu chảy ngắn hơn – Nơi làm việc ít bị ô nhiễm Đốt nóng bằng điện hoàn toàn khác với đốt cháy nhiên liệu, tỏa ra khói và khói này liên tục thải ra môi trường xung quanh. Trên thực tế, quá trình đốt cháy các loại nhiên liệu đòi hỏi lượng không khí lấy từ môi trường như sau: – 1 kg than đá cần khoảng 9.000 lít không khí từ môi trường – 1 lít khí đốt (CH4) cần khoảng 5.000 lít không khí – 1 lít xăng hay dầu cần 12.000 lít không khí

5. KIỂM SOÁT NHIỆT ĐỘ: Để xác định đúng thời điểm đúc, phụ thuộc vào quyết định của người thợ đứng lò. Với kinh nghiệm khi quan sát bằng mắt hay bằng các công cụ đặc biệt như cặp nhiệt điện để đo nhiệt độ nóng chảy của hợp kim, họ có thể nhận biết trạng thái nào của hợp kim phù hợp cho đúc. Lò điện là thiết bị nấu chảy tốt nhất cho việc kiểm soát và điều chỉnh nhiệt độ theo ý muốn. Trên thực tế, lượng nhiệt sinh ra có thể đạt được nhiều mức nhiệt độ khác nhau và chúng được điều chỉnh đến cấp độ nhỏ nhất bằng cách xoay núm vặn của thiết bị cảm biến điện để thay đổi cường độ dòng điện, kiểm soát dòng chảy của các điện tử trong điện trở. Vì vậy, các cặp nhiệt điện thường được đặt gần các điện trở. Ở vị trí này, cặp nhiệt điện chỉ đo được nhiệt độ của cốc nấu bằng than chì được đốt nóng bằng điện trở để nấu chảy hợp kim chứa trong cốc nấu, rõ ràng là nhiệt độ xung quanh điện trở là không giống như bên trong hợp kim nóng chảy. Để giải quyết việc đo lường nhiệt độ không chính xác, nên xem xét và tính toán nhiệt độ nấu chảy dựa trên yếu tố thời gian làm việc của các điện trở bằng cách cộng thêm nhiệt độ nấu chảy của các hợp kim từ 150 – 200 độ C so với nhiệt độ nóng chảy thực tế. Trong ngành kim hoàn, lò điện được sử dụng để nấu chảy một lượng nhỏ vàng hay bạc (khoảng 2 kg). Chúng có điện năng từ 700 – 1.000 W và có thể đạt đến nhiệt độ khoảng 1.100 độ C. Đặc tính nấu chảy của các loại lò loại này kéo dài khoảng chừng 35 phút cho lần nấu đầu tiên. Những lần nấu sau, thời gian nấu chảy từng lần sẽ giảm xuống do lò đã nóng sẳn. 6. LÒ CÓ ĐIỆN TRỞ LÀ HỢP CHẤT SI-LIC: Như đã biết, điện trở bên trong của các lò điện trở thông thường mau hao mòn. Cho nên, người ta dùng vật liệu mới để làm điện trở là các-bít si-líc (SiC) có độ bền cao, thường được sử dụng để nấu chảy hợp kim có nhiệt độ nóng chảy trên 2000 độ C. Lò có điện trở là hợp chất si-lic thì không có tiếng ồn, sạch sẽ, bền hơn và chịu được nhiệt độ cao. Với ưu điểm về tuổi thọ của điện trở này, lò loại này có thể chịu được điện năng cao bằng cách sử dụng 10 điện trở, cho phép duy trì được điện năng ổn định trong suốt quá trình hoạt động của lò.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Các Phương Pháp Nấu Chảy (Phần 1)

I. GIỚI THIỆU: Trải qua các thời kỳ lịch sử, quá trình nấu chảy đã thay đổi cách thức thực hiện: Trước đây, khi nấu chảy hợp kim để đúc, người ta thường dùng gạch chịu lửa (gồm bột chịu lửa, đất sét) thay thế bột nang mực làm vật liệu cho khuôn đúc, còn bây giờ người ta dùng ống thạch cao hay khuôn kim loại để định hình phôi đúc. Bất cứ cách thức sử dụng nào cũng có thể được, miễn sao nó thích hợp để hạn chế sự hấp thu khí vào hợp kim nóng chảy. Khí hấp thu vào hợp kim là từ không khí xung quanh nơi làm việc, từ sự ẩm ướt trên tường lò, từ kẹp gắp và từ quá trình khuấy trộn hợp kim nóng chảy trong lò nấu. Khi hợp kim nóng chảy đông đặc lại, các chất khí hấp thu trong hợp kim có xu hướng thoát ra ngoài qua các chổ rỗ trên bề mặt hợp kim hay hình thành các bong bóng khí kẹt lại trong hợp kim. Ngoài ra, ô-xy hòa tan có thể kết hợp với một trong những kim loại của hợp kim để tạo thành ô-xít. Bên cạnh việc gây rỗ bề mặt, sự hiện diện của tạp chất còn ảnh hưởng xấu đến độ bền của hợp kim. II. NGUỒN NHIỆT ĐỂ NẤU CHẢY: Đối với nguồn nhiệt, đã có sự phát triển trải qua các thời kỳ lịch sử, đầu tiên là đốt nóng bằng than (hệ thống lò rèn). Sau này, được thay thế đốt nóng bằng khí prô-pan hay khí mê-tan hay bằng điện trở. Còn bây giờ, nguồn nhiệt được cung cấp bằng lò điện từ sử dụng trường cảm ứng có điện áp cao và điện áp vừa. Ưu điểm của chúng là làm giảm hấp thu khí nhờ quá trình gia nhiệt và nấu chảy rất nhanh.

  III. PHÂN LOẠI NẤU CHẢY: Tổng kết, chúng ta có thể phân loại các phương pháp nấu chảy như sau: – Nấu chảy trực tiếp bằng mỏ hàn xì (Đèn khò) – Nấu chảy gián tiếp bằng lò đốt khí – Nấu chảy bằng điện trở – Nấu chảy bằng dòng điện cảm ứng (Nấu chảy bằng điện tử)

  IV. NẤU CHẢY Ở TRẠNG THÁI TĨNH: Tất cả những kỹ thuật nấu chảy được áp dụng trong các lò đúc gọi là “Nấu chảy tĩnh”, tức là cho kim loại chảy lỏng ra từ từ bằng việc nấu nó bên trong cốc nấu bằng than gra-phít cho đến khi đúc được. Thường đúc thủ công, người ta dùng kẹp gắp cốc nấu ra khỏi lò, rồi rót hợp kim nóng chảy vào trong ống thạch cao hay khuôn kim loại để tạo ra phôi có dạng thanh hay dạng tấm.

  V. ĐÚC LIÊN TỤC: Gần đây, công nghệ chế tác đồ trang sức bằng kỹ thuật nấu chảy truyền thống đã được bổ sung thêm qui trình đúc liên tục, kết hợp giữa việc nấu chảy và định hình phôi đúc dạng thanh hay phôi đúc dạng tấm trong một máy đúc duy nhất. Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng kỹ thuật nấu chảy kim loại sau đây: 1. NẤU CHẢY BẰNG MỎ HÀN XÌ (ĐÈN KHÒ): a. ĐỊNH NGHĨA:

b. DỄ Ô-XY HÓA: Tuy nhiên, nên lưu ý một lần nữa, các hợp kim nóng chảy ở nhiệt độ càng cao thì càng dễ hấp thụ khí (ô-xy và hy-drô) và hòa tan trong hợp kim. Sự việc này có thể xảy ra là do không khí xung quanh khu vực nấu chảy hay do sự ẩm ướt trên thành nồi nấu. Khi hợp kim đông lại, khí hòa tan trong hợp kim sẽ thoát ra ngoài và để lại các vết nứt trên bề mặt hợp kim hay các lổ rỗng bên trong hợp kim do hình thành các bong bóng khí ảnh hưởng xấu đến độ bền của vật liệu. Ô-xy hòa tan trong hợp kim nóng chảy thường có thể kết hợp với một trong những kim loại của hợp kim tạo thành ô-xit (Ví dụ: ô-xit đồng -Cu2O)

  c. NUNG NÓNG TRONG MẺ NẤU: Hợp kim được bỏ vào mẻ nấu bằng vật liệu chịu lửa, trước đó đã đun nóng nó đến khoảng 700 độ C bằng ngọn lửa để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nấu chảy, vì như thế sẽ làm tăng tốc quá trình nấu chảy và giảm nguy cơ của quá trình oxy hóa.

d. CHẤT TẠO XỈ: Để tránh nguy cơ của quá trình ô-xy hóa, trong quá trình nấu chảy nên cho thêm vào một lượng nhỏ chất chống ô-xy hóa ở dạng bột như hàn the. Chúng sẽ tạo nên một lớp xỉ nhẹ hơn hợp kim và nổi lên trên bề mặt hợp kim nóng chảy, tạo lớp ngăn cách với không khí bên ngoài. Chắc chắn, chất tạo xỉ phải có điểm nóng chảy thấp hơn so với hợp kim và không được cháy cũng như bốc hơi quá nhanh

  e. NHIỆT ĐỘ ĐÚC: Ngay khi đạt được nhiệt độ đúc tối ưu (khi đó có hiện tượng “chói mắt” nếu nhìn trên bề mặt mẻ nấu) nên thực hiện đúc ngay lập tức. Khi sự gia nhiệt kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ của quá trình ô-xy hóa và tăng khả năng bay hơi của các kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp, thậm chí có thể là nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến độ mịn của hợp kim.

  f. PHƯƠNG PHÁP CÓ TÍNH KINH TẾ: Phương pháp này thường được áp dụng trong các xưởng kim hoàn nhỏ, vì nó không đòi hỏi thiết bị đắt tiền. Tuy nhiên, nó đòi hỏi người thợ hàn xì phải có tay nghề lâu năm và phải biết thời điểm thích hợp để đúc. Cuối cùng, nên lưu ý, khi sử dụng mỏ hàn xì, khí dễ cháy phải được mở trước tiên và được tắt sau cùng.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Cách Nấu Xôi Vò Hạt Sen

-Đậu xanh các bạn cũng ngâm nở rồi đem đồ chín. Nếu các bạn nấu đậu xanh bằng nồi cơm điện thì không cần phải ngâm từ trước. Hạt đậu xanh khi chín phải khô, bở, không bị nát hoặc còn ướt.

-Cho đậu xanh vào cối giã thật nhuyễn.

-Gạo nếp ngâm nở, đãi sạch, xóc qua với chút muối rồi để thật ráo nước. Sau đó trộn gạo thật đều với khoảng 1 thìa canh dầu ăn.

-Tiếp đó là trộn gạo với 1/2 số đậu xanh đã giã.

– Đun nước thật sôi mới cho gạo vào đồ chín như cách đồ xôi thông thường.

-Đối với những loại nếp ngon, dẻo thì chỉ cần đến bước 8 là món xôi đã hoàn tất. Tuy nhiên các bạn cũng có thể đem xôi đồ lên 1 lần nữa để xôi dẻo hơn, để lâu hạt xôi vẫn căng mọng, dẻo thơm.

1. Nguyên liệu cho món xôi vò chè đường

-Gạo vo sạch, ngâm nước 8 – 12 tiếng.

-Vớt gạo ra rá để cho thật ráo nước. Gạo ráo nước hay không sẽ quyết định sự thành công của món xôi. Nếu cẩn thận bạn có thể dùng một khăn bông khô thấm nước gạo.

-Đỗ xanh vo cho sạch, ngâm 2 – 3 tiếng.

-Vớt đỗ ra và để ráo. Hạt đỗ to nên thời gian ráo nước sẽ nhanh hơn

-Đồ chín đỗ. Dùng đũa tạo 3 lỗ thông hơi nhỏ để đỗ chín đều.

-Đỗ chín thì bạn cho vào cối giã nhuyễn. Bớt lại chút đỗ để rắc lên chè.

-Tiếp tục đổ gạo vào đồ. Gạo gần chín thì bạn thêm đường và chút dầu ăn vào.

-Gạo chín, xới ra mâm cùng với đỗ xanh đã giã.

-Dùng tay trộn đều gạo và đỗ, trộn ngay khi gạo còn nóng; vừa trộn vừa bóp cho gạo tơi hạt và bám đều đỗ. Chính bởi công đoạn này mà xôi có tên là xôi “vò” đấy.

-Hòa bột sắn với nước.

-Đun sôi một nồi nước rồi cho bột sắn vào, khuấy chín. Tùy vào sở thích mà điều chỉnh lượng nước cho vừa độ sánh.

-Múc chè ra bát, rắc ít hạt đỗ lên và ăn cùng với xôi.

-Xôi vò không hề khó làm, quan trọng là bạn cần đảm bảo cho gạo khô, đỗ được giã nhuyễn nhỏ thì khi vò xôi chắc chắn sẽ bám đều đỗ. Hạt xôi tơi và vàng đều là món xôi vò chè đường thành công rồi! Đây là công thức chung cho xôi vò, nếu là xôi ngọt thì bạn thêm nước dừa và dừa nạo vào sẽ rất hợp vị, còn xôi mặn thì thay vì đường bạn cho chút muối và ăn với thịt quay hay lạp xưởng cũng ngon.

Phương Pháp Thực Dưỡng Là Gì?

Phương Pháp Thực Dưỡng Là Gì?

Phương pháp thực dưỡng là phương pháp ăn uống và sinh sống thuận theo tự nhiên, lấy triết lý Âm Dương của Đông phương làm nền tảng và lấy hạt cốc (như gạo lức, lúa mì lức…) làm thức ăn chính.

Cách nay ba, bốn chục năm, người ở quê tôi ăn uống rất đơn giản, chủ yếu ăn cơm và ăn thêm một ít thức ăn khác như rau củ hoặc thịt cá. Tôi còn nhớ, lúc bà nội tôi còn sống, nội kho cá rất mặn, lớp muối bằng với lớp cá, quê tôi gọi là kho diêm. Lúc ấy, một con cá bằng ngón tay ăn đủ cả bữa cơm với bốn, năm chén cơm. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao nội kho cá mặn như vậy. Bởi vì cá là thức ăn phụ, chỉ làm mồi để ăn được nhiều cơm và ăn rất ít. Cơm lúc đó nấu từ gạo xay tay nên vẫn còn lớp cám. Hôm nào muốn ăn rau chỉ cần ra vườn một lát là có đủ rau luộc, rau nấu canh. Hồi còn học phổ thông, tôi ăn hết một lon gạo nấu cơm mà chưa thấy no. Buổi sáng tôi cũng như bạn bè hàng xóm thường ăn cơm nguội với muối hột. Vậy mà đứa nào cũng khỏe. Trí nhớ lúc đó của tôi tốt hơn bây giờ nhiều. Cả làng hiếm khi thấy có người đau ốm. Có đau ốm đi nữa cũng là những chứng nhẹ, chỉ cần ra vườn hoặc sang nhà hàng xóm hái một vài thứ lá uống vài hôm là hết đau ốm. Buổi chiều, thường ăn cơm trước khi mặt trời lặn. Ông bà bảo buổi tối không nên ăn cơm vì khi nghe chén dĩa khua, ma sẽ vào nhà. Hồi nhỏ nghe vây cũng sợ nên hiếm khi ăn tối. Sau này mới biết ăn tối là nguyên nhân của một ngàn lẻ một chứng bệnh. Ăn uống như trên được gọi là ăn uống theo thực dưỡng.

Ngày xưa, con người ăn uống thuận theo thiên nhiên và sống hòa hợp với âm dương. Người xưa chủ yếu ăn ngũ cốc, ăn một ít rau củ, trái cây theo mùa, một ít thịt cá. Ngày xưa không có trái cây trái mùa. Đa số thực phẩm đều đánh bắt hoặc thu hái từ thiên nhiên. Con người chưa biết sử dụng hóa chất trong việc trồng trọt, trong bảo quản thức ăn và trong các công việc khác. Ngủ sớm dậy sớm. Hồi còn đi học ở quê, 7-8 giờ tối mọi nhà đều đi ngủ hết; đến 4-5 giờ sáng đã thức dậy. Các chú bác đưa bò ra đồng cày ruộng lúc gà gáy và đến sáng mặt trời lên một hai sào (khoảng 8-9 giờ sáng) liền đưa bò về nhà nghỉ ngơi. Cách sống này cũng là cách sống của người thực dưỡng.

Từ khi khoa học hiện đại phát triển, con người bắt đầu có nhiều công cụ trong tay và dần dần con người sống và ăn uống nghịch với thiên nhiên. Gạo đem đi xay trắng nhờ máy xay gạo. Đem phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng, thuốc diệt cỏ, chất tạo nạc, chất bảo quản và nhiều loại chất hóa học khác sử dụng trong quá trình trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và bảo quản. Các chất hóa học nêu trên làm thay đổi thành phần và tính chất của thức ăn. Đó là nguyên nhân tạo nên nhiều loại bệnh (trong đó có các chứng bệnh nan y và bệnh lạ) cho những người ăn phải thực phẩm này. Như thế này là trái với thực dưỡng.

Khi có nhiều công cụ trong tay, con người có điều kiện làm được nhiều thứ nhưng thời gian lại có hạn nên phải thức nhiều ngủ ít hoặc đêm làm ngày ngủ hoặc thức khuya dậy trễ. Những điều này làm xáo trộn nhịp sinh học của cơ thể, lâu ngày sinh bệnh tật. Rồi bị áp lực của công việc. Rồi cạnh tranh với nhau. Những thứ này gây xáo trộn tâm lý mà sinh bệnh. Và còn nhiều nguyên nhân gây bệnh nữa… Lối sống như thế này không hợp với người thực dưỡng.

Khi con người ăn uống trái với tự nhiên, từ “phương pháp thực dưỡng” mới xuất hiện để phân biệt với cách ăn uống sai trái này. Ở nước ngoài là từ “Macrobiotic”, ở Việt Nam là từ “phương pháp thực dưỡng”. Từ “thực dưỡng” mới chỉ xuất hiện sau ngày giải phóng (năm 1975). Trước đó thường gọi là “gạo lức muối mè”.

Phương pháp thực dưỡng là phương pháp ăn uống và sinh sống thuận theo tự nhiên, lấy triết lý Âm Dương của Đông phương làm nền tảng và lấy hạt cốc (như gạo lức, lúa mì lức…) làm thức ăn chính. Nhờ cách ăn uống đúng đắn này mà chúng ta sẽ đạt được thân thể khỏe mạnh (bệnh tật bị đẩy lùi), tinh thần vui vẻ, gia đình hạnh phúc, sự nghiệp bền vững và trí phán đoán tối cao phát triển.

Hiện nay, để tri ân bậc thiện tri thức, nhiều người nhìn nhận phương pháp thực dưỡng được sáng lập bởi tiên sinh George Ohsawa (1893-1966), người Nhật. Nhưng tiên sinh không thừa nhận như vậy. Có người hỏi tiên sinh: “Tại sao ngài sáng lập ra phương pháp thực dưỡng?” Tiên sinh trả lời: “Tôi không phải là người sáng lập. Tôi chỉ khám phá ra những điều đã có rồi.” Thông qua con đường ăn uống, tiên sinh Ohsawa mong muốn mọi người được khỏe mạnh, thoát khỏi cảnh khổ đau vì bệnh tật cả về thể xác lẫn tinh thần và muốn mọi người phát triển trí tuệ để nhận ra trật tự của vũ trụ để sống thật với chính mình. Tiên sinh đã bỏ ra cả cuộc đời mình để nghiên cứu ăn uống và đúc kết lại thành những nguyên lý cho hậu thế thực hành theo. Phương pháp thực dưỡng du nhập vào Việt Nam năm 1963 và tiên sinh đến Việt Nam năm 1965 để gặp các đệ tử thực dưỡng. Từ đó thực dưỡng phát triển ở Việt Nam.

Người Việt từ thời Vua Hùng đã sử dụng gạo, nếp qua “sự tích bánh chưng, bánh dầy”. Gạo, nếp lúc đó chắc chắn là gạo lức, nếp lức vì thời đó không sử dụng máy xay gạo như bây giờ. Qua “sự tích bánh chưng bánh dầy”, chúng ta thấy rõ tổ tiên mình đã tôn hạt gạo, hạt nếp lên hàng thượng phẩm, thượng vị, không một sơn hào hải vị nào bằng. Sự tích này còn nhắc nhở con cháu không được quên hạt gạo lức là thức ăn chính của con người và muốn đất nước tiếp tục vững mạnh phải lấy hạt gạo lức làm nền tảng thức ăn cho dân (qua hành động truyền ngôi của vua cha cho người con sử dụng gạo lức). Lang Liêu, người được truyền ngôi, là người có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Điều này khẳng định những người lấy gạo lức làm thức ăn chính là bậc tài đức song toàn.

Như vậy, người Việt đã sử dụng gạo lức làm thức ăn chính từ xa xưa và lúc đó tổ tiên mình không gọi là phương pháp thực dưỡng vì đó là cách ăn tự nhiên như chúng ta đang hít thở khí trời vậy. Ngày xưa con người ăn gạo lức hoặc ngũ cốc thì ngày nay con người cũng ăn gạo lức hoặc ngũ cốc, giống như ngày xưa mặt trời mọc ở hướng Đông và bây giờ mặt trời vẫn mọc ở hướng Đông.

Đông y sỹ Đặng Ngọc Viễn

www.khaiminh.vn – facebook/quanluckhaiminh